Chuyển đổi doanh nghiệp nhà nước: Thay cái bình đã hết đất – Phần 3

Bà có thấy sự liên quan gì giữa sự lần lữa trong tiến trình cổ phần hóa và sự phá sản của đề án tái cấu trúc nền kinh tế? Bởi cốt lõi của đề án tái cơ cấu là phân bổ lại nguồn lực cho hiệu quả hơn, trong khi việc chuyển đổi DNNN thành công ty TNHH một thành viên (nhà nước) về cơ bản không thể hiện sự thay đổi tư duy về vai trò của khu vực kinh tế nhà nước.

Ban đầu nhà nước có vẻ rất hào hứng với tái cấu trúc nền kinh tế. Khi khủng hoảng xảy ra, các vị lãnh đạo đều thúc giục các ngành phải làm đề án tái cấu trúc ngành mình, giao cho Bộ Kế hoạch Đầu tư (KHĐT) làm đề án chung, tìm kiếm thúc đẩy các hướng đi. Thậm chí, họ đã từng tuyên bố rằng Việt Nam phải đi theo mô hình tăng trưởng khác, bởi mô hình tăng trưởng cũ là bất ổn…

Nhưng khi Bộ KHĐT hoàn thành đề án và trình lên lãnh đạo chính phủ, thì sự tiếp nhận dường như rất hờ hững. Trong kế hoạch 5 năm tới, không thấy bóng dáng của tái cấu trúc nữa. Ngay cả ngôn từ cũng có sự thay đổi. Các anh ở Viện Quản lý Knh tế Trung ương (QLKTTƯ) có nói với tôi rằng họ được giải thích từ bên trên rằng nói tái cấu trúc tức là cấu trúc hiện nay hóa ra lại sai à. Tức là, theo quan điểm của họ, với tư duy “sai đâu sửa đó”, lâu nay Việt Nam liên tục có sự chuyển đổi cơ cấu.

Theo quan điểm của giới chuyên gia chúng tôi, cái cao nhất của tái cấu trúc không phải là bớt làm nông nghiệp đi, tăng công nghiệp – dịch vụ thêm, mà thay đổi cách phân bổ sử dụng nguồn lực, nhất là thay đổi mô hình tăng trưởng chỉ tính theo tốc độ mà không tính theo hiệu quả. Vì vậy, yêu cầu cao nhất của tái cấu trúc là lấy hiệu quả làm thước đo chính, từ đó kéo theo sự phân bổ lại nguồn lực để phục vụ cho cái hiệu quả đó.

Từ đó phải xem lại các ngành, qui hoạch các vùng, và xem lại vai trò nhà nước đến đâu, vai trò doanh nghiệp tới đâu. Trong đó, ở khu vực doanh nghiệp ai là người chơi thực sự và mang lại hiệu quả cao hơn. Hay, những ngành làm ăn không hiệu quả buộc phải dẹp đi, hoặc thu gọn lại, tạo ra những ngành mới…

Tuy nhiên, ngay cả với nội dung đã được viết lại rất ngắn và sơ lược so với bản thảo ban đầu, đề án này đã được chỉ đạo đưa sang bộ phận soạn thảo chiến lược như một tài liệu tham khảo, chứ không còn vai trò độc lập như ban đầu.

Chuyển đổi doanh nghiệp nhà nước: Thay cái bình đã hết đất – Phần 2

Theo bà, việc chậm trễ cổ phần hóa các DNNN có tác động gì đến câu chuyện tăng năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Việt Nam nói chung, khi nền kinh tế phải mở cửa để hội nhập? Bởi, họ hầu như chiếm hết những ngành then chốt, và được hưởng đầy đủ những ưu đãi, từ đó có thể chèn ép sự phát triển của khu vực doanh nghiệp tư nhân.

Việc dành ưu đãi, đặc biệt là quyền kinh doanh cho DNNN sẽ để lại một hậu quả lớn, là một số ngành then chốt, khi phải mở cửa ra bên ngoài rộng hơn theo lộ trình cam kết WTO, có thể sẽ rơi vào tay nước ngoài vì năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp trong nước yếu. Chẳng hạn về hạ tầng, với một nhu cầu quá lớn như thế này, làm sao nhà nước một mình tiếp tục đầu tư được nữa, mà doanh nghiệp nước ngoài lại cạnh tranh tốt hơn DNNN. Tôi e rằng đến một lúc nào đó giật mình tỉnh lại, sẽ thấy các ngành thiết yếu rơi hết vào các đại gia bên ngoài, và trong nền kinh tế sẽ nảy sinh nguy cơ mới là sự mất tự chủ ở mức độ nhất định.

Còn đối với khu vực doanh nghiệp tư nhân trong nước, sẽ xảy ra hai câu chuyện. Thứ nhất, các doanh nghiệp nhỏ và vừa bị DNNN chèn ép khó ngóc đầu lên, và không thể đóng góp có hiệu quả cho nền kinh tế, trong đó có việc tăng cường tính tự chủ, như được kỳ vọng. Thứ hai, xu hướng này lái một số doanh nghiệp tư nhân chạy theo, bắt chước các DNNN. Tức là họ không tiếp tục kinh doanh bằng năng lực thực sự, có khi đã thành danh của mình, mà cũng đi vận động hành lang, đi bằng con đường của chủ nghĩa thân hữu, và dần biến nền kinh tế này phát triển dựa trên quan hệ thân hữu.

Câu chuyện về cái tập đoàn tư nhân chuyên về xây dựng khu công nghiệp là một dẫn chứng tốt, khi họ nhờ mỗi quan hệ nọ quan hệ kia đầu tư vào bất động sản, và phất lên từ đó. Hay cái tập đoàn mà ở Hà Nội, TP HCM, hay bất cứ đâu có mảnh đất vàng để làm văn phòng, siêu thị cho thuê… là có mặt họ, cũng là câu chuyện thành công trên quan hệ với những người có quyền chức cả.

Lúc đầu họ có thể có năng lực thật, có ước mơ hoài bão thật, nhưng rồi thấy con đường đó vất vả quá, trong khi con đường của các đàn anh DNNN lớn ngon lành bao nhiêu. Thứ hai, họ đã nhận thấy rằng sự ưu ái trên cơ sở có đi có lại không nhất thiết phải bó gọn trong khu vực DNNN nữa, nên tận dụng thời cơ luôn.

Nguy hiểm hơn nữa, điều này không chỉ xảy ra với tư nhân trong nước, mà cả tư nhân nước ngoài, và một số nhà đầu tư nước ngoài đã thắng ở Việt Nam bằng con đường thân hữu. Họ khống chế được chính sách thuế, cũng như một số qui định pháp lý khác. Công nghiệp ô tô là một ngành điển hình, hay công nghiệp thép cũng tương đối rõ.

Chuyển đổi doanh nghiệp nhà nước: Thay cái bình đã hết đất – Phần 1

Từ 1.7.2010, hơn 1000 doanh nghiệp nhà nước đã được chuyển đổi thành công ty TNHH một thành viên để họat động theo luật doanh nghiệp chung. Liệu việc chuyển đổi này có khiến cho môi trường kinh doanh của Việt Nam trở nên bình đẳng hơn, và giúp nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Việt Nam, để Việt Nam thực sự có một nền kinh tế thị trường theo đúng nghĩa, cũng như sớm được các đối tác trong WTO công nhận? Đó là những vấn đề mà Tạp chí Đầu tư nước ngoài trao đổi với chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan.

 Xin bà cho biết việc giữ quá nhiều doanh nghiệp một trăm phần trăm vốn nhà nước có ảnh hưởng gì tới việc các đối tác trong WTO sớm công nhận Việt Nam có qui chế kinh tế thị trường, như mong muốn của Việt Nam, hay không?

Thực ra Mỹ, hay Liên minh châu Âu, không đưa ra yêu cầu là bắt Việt Nam phải cắt giảm DNNN. Họ chỉ yêu cầu các DNNN đó phải họat động trên cơ sở thương mại như các doanh nghiệp khác trên một sân chơi bình đẳng.

Điều đó có nghĩa là những ưu đãi phải bị cắt bỏ đi. Nhà nước không được cấp tín dụng đặc biệt, cho thuê đất với giá đặc biệt (thực ra là giao đất), không được trao quyền kinh doanh riêng cho những doanh nghiệp này, như xưa nay vẫn làm. Hoặc, doanh nghiệp 100% vốn nhà nước cũng không có đặc quyền tiếp cận các dự án của nhà nước mà các doanh nghiệp tư nhân không được tham gia.

Thứ hai, mua sắm của doanh nghiệp 100% vốn nhà nước không được coi là mua sắm nhà nước, tức là không được dùng vốn ngân sách. Chẳng hạn, việc quốc hội vẫn thông qua đề nghị của chính phủ cho Petro Vietnam giữ lại 40% doanh số để tái đầu tư là không được nữa, vì điều đó vi phạm nguyên tắc thị trường.

Theo tôi được biết qua trao đổi với các chuyên gia nước ngoài, WTO và các đối tác khác sẽ tiếp tục giám sát chặt chẽ, và sẽ có những đòi hỏi mạnh mẽ để Việt Nam phải thực hiện theo đúng những tiêu chí của WTO, mới quyết định có công nhận Việt Nam là nền kinh tế thị trường hay không.

Nói tóm lại, Việt Nam ngay từ bây giờ phải có kế hoạch và lộ trình cổ phần hóa các công ty TNHH một thành viên (nhà nước) này, sau khi đã buộc phải làm cái chuyện bất đắc dĩ là “đổ rượu cũ qua bình mới” vì bình cũ (luật doanh nghiệp nhà nước) đã hết đất.

PGS. TS. Trần Đình Thiên, viện trưởng viện Kinh tế Việt Nam: “Phải vươn ra biển với chủ quyền và thực lực”

Việt Nam đã mở cửa hội nhập với kinh tế thế giới. Nhưng trong một thời gian dài trước đây chúng ta mới chỉ chú trọng mở cửa và hướng lên núi bằng việc mở ra hàng loạt các khu kinh tế cửa khẩu mà ít mở ra biển qua các cảng biển. Mô hình tăng trưởng đang áp dụng đã “tận khai” năng lực đất liền.

Tuy nhiên hiện nay, với chiến lược Biển đã được ban hành; cùng với các yếu tố khác là quá trình toàn cầu hóa trong đó chúng ta đã là thành viên chính thức của tổ chức Thương mại thế giới, thế giới đang chuyển hướng sang thời đại công nghệ cao và vấn đề kinh tế biển hơn bao giờ hết được mọi quốc gia đặt trọng tâm vào. Bên cạnh đó tư duy biển đã hình thành: chủ quyền, sự hiện diện, sự chinh phục; và các định hướng phát triển biển bắt đầu định hình: Chủ quyền lãnh hải, phát triển đóng tàu và hàng hải viễn dương, du lịch biển, hợp tác quốc tế giải quyết tranh chấp, thăm dò, khai thác biển, v.v. Có thể nói đây là thời điểm thuận lợi nhất để chúng ta quyết tâm “vươn ra biển lớn”.

Nhưng chúng ta sẽ vươn ra biển lớn như thế nào? Theo tôi Việt Nam cần hiện diện trên đại dương với tư cách một cường quốc biển (có chủ quyền và có thực lực). Tức là phải có tàu lớn và doanh nghiệp lớn. Công nghiệp đóng tàu và ngành vận tải biển (cảng và hàng hải) phải lớn mạnh; kinh tế “mặt tiền” – đô thị biển và du lịch biển (bờ, biển, đảo) – phải phát triển mạnh. Chiến lược Biển cần được cụ thể hóa hơn nữa để thực thi thuận lợi.

Ngoài ra chúng ta đã và đang hình thành bốn vùng kinh tế trọng điểm và hàng chục khu kinh tế dọc theo chiều dài đất nước. Tất cả đều hướng ra biển và có tiềm năng to lớn từ kinh tế biển. Chính vì vậy cần có các chiến lược cụ thể và mang tính khả thi cao để phát triển hạ tầng giao thông để tạo thuận lợi cho phát triển, kết nối, liên kết các vùng kinh tế đặc biệt này trong chiến lược phát triển chung của quốc gia.

Như vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ hiện nay được xem là đang hình thành rõ nét nhất và cũng chứng minh được tiềm năng to lớn khi có tính ảnh hưởng và liên kết mang tính liên vùng với các hành lang kinh tế Việt Nam – Trung Quốc, nhất là sự bùng nổ về phát triển của một vùng rộng lớn ở Tây Nam Trung Quốc trong tương lai gần. Trong khi đó cửa ngõ chính hướng ra biển của khu vực bùng nổ này chính là Hải Phòng và cụm cảng của khu vực này.

Rõ ràng đây là những điều chúng ta phải có sự dự báo từ sớm để có kế hoạch chuẩn bị và đón đầu. Tuy vậy thực tế đang diễn ra trong vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ của chúng ta lại chưa cho thấy được điều này; các yếu tồi về lợi thế, cơ cấu, thể chế điều phối và liên kết vẫn chưa rõ.

Đây chính là các nút thắt trong số nhiều nút thắt làm trở ngại sự phát triển mà chúng ta vẫn nói nhiều đến lây nay nhưng vẫn chưa được cải thiện

Đã đến lúc cần có những đột phá mới trong chiến lược phát triển kinh tế biển đó là: Mặt tiền (biển) + tự do hóa (thể chế vượt trước). Đây là công thức thành công của nhiều quốc gia đã làm”.

Đến Châu Đốc thưởng thức mắm Bà Giáo Khỏe

Chưa ai là người đầu tiên sáng tạo biến con cá thành con mắm, nhưng trong dân gian do yêu cầu dự trữ thức ăn, phòng những lúc trời mưa bão, nắng hạn không có cá tươi để ăn. Bởi vậy nên ngay vào trong mùa có nhiều cá nhất, người dân dự trữ cá, đánh vẩy, bỏ đầu, rửa sạch cho vào lu, khạp và đổ muối vào cho cá không bị ươn. Quy trình làm mắm dân gian đã tạo ra một sản phẩm đa hương, nhiều vị mang đặc trưng của đồng bằng sông nước An Giang.

Ở thị xã Châu Đốc (An Giang) ai cũng nghe danh Mắm Bà Giáo Khỏe, và đi kèm theo thương hiệu chính ấy có những con số như 4444 (bốn số 4), 55555 (năm số 5), 666666 (sáu số 6) và 7777777 (bảy số 7), đặt tên thương hiệu là những con số khiến khách hàng nghĩ ngay các cơ sở sản xuất mắm này có mối quan hệ với nhau. Đúng vậy, bởi các cơ sở ấy vốn có liên hệ họ hàng, ruột thịt với nhau, và đều bắt nguồn từ bà Hai Xuyến, mẹ của người được gọi là “Bà Giáo Khỏe”.

Thật ra, Bà Giáo Khỏe không làm nghề giáo mà chồng bà là ông Hồ Đắc Khỏe (1901 – 1965) mới là thầy giáo, còn bà tên là Văng Thị Lắm (1903 – 1966), dân trong vùng quen gọi bà là “Bà Giáo Khỏe”. Lúc đó (khoảng năm 1925), ông Khỏe làm nghề giáo không đủ sống, nên bà Lắm nối nghề mẹ (bà Hai Xuyến), làm mắm để kiếm tiền phụ chồng nuôi 9 đứa con ăn học. Ban đầu việc làm mắm của bà và mọi người ở đây còn nặng thủ công, thu mua cá các loại để làm mắm, vô khạp vô thùng, chèo ghe bỏ mối các chợ trong vùng; mắm bán lẻ lúc đó chưa đóng gói như hiện nay, mà dùng gói bằng lá sen, buộc bằng cọng lục bình khô.

Vợ chồng Bà Giáo Khỏe có 9 người con, năm trai, bốn gái. Những người con nối nghiệp mẹ tùy theo thứ của mình trong gia đình mà lấy tên cơ sở mình ngoài thương hiệu Bà Giáo Khỏe còn kèm theo bốn số 4, năm số 5, sáu số 6, bảy số 7… Trong đó, mắm năm số 5 (55555) do bà La Thị Mỡn, dâu thứ năm của Bà Giáo Khỏe làm chủ. Bà Mỡn cho biết, lúc đầu bà về làm dâu nhà Bà Giáo Khỏe, thấy mấy anh chị em chồng phụ mẹ chồng làm mắm vất vả quanh năm, bà thương lắm, lại nghĩ mình không thể làm mắm. Cho đến khi chồng bà mất sớm, 5 đứa con còn nhỏ dại, bà Mỡn buôn bán đủ thứ nhưng không đủ để nuôi các con; được các chị hướng dẫn, bà La Thị Mỡn học cách làm mắm và từng bước đi lên, có tiền bán mắm để nuôi các con trưởng thành.

Như những hộ sản xuất mắm khác ở thị xã Châu Đốc, cơ sở Mắm Bà Giáo Khỏe 55555 giờ đây do người con thứ hai là anh Hồ Đắc Hoàng (tức anh Nguyễn Phụng Hoàng), sự quản lý ban đầu chỉ mang tính chất gia đình, chủ yếu phục vụ khách du lịch đến Châu Đốc, nơi có nhiều danh lam thắng cảnh ở cụm Núi Sam, hàng năm thu hút gần 2 triệu người đến tham quan, tham dự lễ hội Vía Bà Chúa Xứ Núi Sam.

Trước năm 2000, cơ sở 55555 tham gia cung cấp hàng hóa cho các doanh nghiệp xuất khẩu dưới dạng nguyên liệu thô, sản lượng tiêu thụ cũng còn giới hạn. Đến năm 1996, cơ sở 55555 đã di dời ra khu vực ngoại ô thuộc tổ 5, ấp Châu Long 6, phường Vĩnh Mỹ. Do nằm ven sông, rất thuận lợi trong việc nhập nguyên vật liệu, có đường giao thông thuận lợi xuất hàng bằng xe tải đưa đi các nơi. Mặt bằng rộng, cơ sở đầu tư xây dựng được khu vực cá, kho ủ mắm, phòng chế biến, đóng gói phù hợp với quy định an toàn vệ sinh thực phẩm và có cả khu vực cho công nhân nghỉ ngơi. Từ năm 2000 đến nay, cơ sở Mắm Bà Giáo Khỏe 55555 thông qua chương trình khuyến nông, xúc tiến thương mại nâng sản lượng sản xuất tiêu thụ từ 50 tấn/năm lên 80 tấn/năm. Mạng lưới tiêu thụ nội địa được mở rộng, hàng có mặt tại nhiều siêu thị khu vực ĐBSCL, TP. HCM, và miền Đông Nam Bộ.

 Đến nay, mắm Bà Giáo Khỏe 55555 của anh Hoàng đã có gần 30 loại sản phẩm như: mắm Cá Lóc, mắm Cá Linh, mắm Thái, mắm Cá Trèn, mắm Cá Sặt… một số sản phẩm đã có mặt trên thị trường các nước Đài Loan, Úc, Mỹ và EU. Đến nay, cơ sở chế biến mắm 55555 đã nâng mức tiêu thụ lên 100 tấn/năm. Doanh số tăng dần từ khoảng 900 triệu/năm đã lên đến 2 tỉ đồng/năm.

Cần có thêm lực đẩy mới – Phần 3

Trong kinh tế có một qui luật hết sức quan trọng là hiệu quả kinh tế theo qui mô. Nếu không có những khác biệt quan trọng về công nghệ hay phân khúc thị trường thì qui mô nhỏ luôn kém sức cạnh tranh và rất dễ bị tổn thương khi yếu tố bảo hộ mất đi.

Thu hút đầu tư nhiều nhà máy như nhau ở 13 tỉnh, thành phố thì không dễ gì có được qui mô lớn ở từng nhà máy, và đó cũng chỉ là những nhà đầu tư nhỏ, ít vốn, không có công nghệ tốt. Có thể có một số kết quả nào đó trong ngắn hạn về thành tích đầu tư, giải quyết công ăn việc làm nhưng về dài hạn nó cản trở tăng trưởng khi phải đối mặt với khó khăn do khủng hoảng từ bên ngoài, thậm chí cả ở bên trong khi doanh nghiệp phải cạnh tranh và tái cấu trúc.

Bên cạnh đó, với dòng vốn FDI nếu chỉ xem xét đến vốn đăng ký là còn nhiều thiếu sót. Có những dự án vốn đăng ký lớn nhưng nhiều năm cũng không thực hiện. Cơ sở xem xét về FDI thực sự chính là vốn được thực hiện từ thực tế. Nhưng phải là phần vốn mới được nhà đầu tư nước ngoài đưa vào mới góp phần tạo nên lực đẩy mới. Nếu chỉ là vốn vay từ ngân hàng trong nước thì đó lại là sự giành giật tín dụng của những người đầy sức mạnh với các doanh nghiệp nhỏ, đang khát vốn hoạt động trong nước. Thu hút đầu tư trong trường hợp đó thực ra không giúp gì nhiều cho phát triển kinh tế từ bên trong. Trái lại còn tạo lực chèn ép các doanh nghiệp nhỏ và vừa.

Triển vọng dài hạn: Tiếp tục cải thiện môi trường kinh doanh

Các chuyên gia của dự án Nâng cao năng lực cạnh tranh Việt Nam (VNCI) cho rằng, các tỉnh có chất lượng điều hành tốt hơn cũng thành công hơn về phát triển doanh nghiệp và thịnh vượng hơn về kinh tế. Có sự tương quan tỷ lệ thuận giữa thu hút đầu tư và chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI).

Nếu cải thiện 1 điểm trong PCI chưa có trọng số sẽ có thêm 3 nhà đầu tư tiềm năng có khả năng chọn lựa tỉnh làm địa điểm đầu tư. Và “Nếu tăng diện tích đường giao thông được rải nhựa lên 10% thì số nhà đầu tư tiềm năng chọn tỉnh làm địa điểm kinh doanh tăng lên tương ứng”.

Việc đưa vào sử dụng cầu Cần Thơ và đường cao tốc đoạn TP. HCM – Trung Lương là một phần của nỗ lực nâng cấp hệ thống giao thông góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế của vùng.

Mặc dù vậy cơ sở hạ tầng, nhất là giao thông nơi đây vẫn còn rất nhiều việc phải làm. Hệ thống đường bộ yếu kém, tỷ lệ đường được rải nhựa thấp, đường thủy thì thiếu đầu tư thích đáng cho hệ thống hạ tầng, bến bãi và sự an toàn hệ thống. Ở những nút giao quan trọng vẫn thường xuyên bị tắc nghẽn và tần suất càng ngày càng dày.

Box: Tỷ lệ đóng góp GDP của vùng ĐBSCL là vùng đứng thứ 3 cả nước (17,2%), nhưng tỷ lệ tổng đường được rải nhựa thấp thứ hai cả nước (40,7%) (thấp hơn cả Tây Nguyên 49,4%) và Bắc Trung Bộ 55,8%. Giá điện trung bình cao thứ hai cả nước. (Theo báo cáo PCI năm 2008)

Cần có những chính sách mới để tư nhân có thể đầu tư vào hệ thống hạ tầng. Các quy hoạch đô thị cần được đi trước. Các qui họach đòi hỏi phải có chất lượng và chính quyền cần dành một khoản ngân sách thích đáng vào công việc này, xem đây là một khoản đầu tư hết sức cần thiết cho chiến lược phát triển. Qui họach đô thị là cơ sở quan trọng trong công tác quản lý, với nhà đầu tư nó giúp tiết kiệm chí phí và thời gian.

Cũng cần tính toán lại xem về mặt tổng thể 10 năm, 20 năm tới ĐBSCL sẽ phát triển những ngành nào có thế mạnh. Các quy hoạch cũ đã tỏ ra không thích hợp trong tình hình hiện nay. Ngành nông nghiệp đang gặp nhiều khó khăn. Trước ảnh hưởng biến đổi khí hậu tạo cho nông nghiệp lại càng bị tác động suy yếu nhiều hơn. Chưa rõ là trong kỳ Đại hội Đảng tới ở các tỉnh, chiến lược nào sẽ được đưa ra cho 5 năm tới. Nhưng cách làm như cũ đã không thu được kết quả theo mong muốn.

Các nhà đầu tư luôn quan tâm đến thực tế. Họ đang cần chiến lược tổng thể của vùng, sự phối hợp ở tầm cấp vùng và triển vọng phát triển trong tương lai của cả vùng. Triển vọng tương lai, với nhà đầu tư thì đó không phải là những lời hứa, mà là những gì có cơ sở để họ tin tưởng.

Cần có thêm lực đẩy mới – Phần 2

Vai trò hạt nhân mờ nhạt

Khu vực đô thị phát triển là một trong những điều kiện quan trọng để hỗ trợ việc thu hút FDI và sự phát triển khi nhà đầu tư nhìn thấy, nhận thấy được có sức hấp dẫn hơn trong thu hút đầu tư và Cần Thơ, thành phố được kỳ vọng là trung tâm của cả vùng, là trường hợp để phân tích.

Từ 2002 đến 2006 FDI vào TP. Cần Thơ rất thấp, chỉ ở con số trên dưới 10 triệu USD. Từ khi có chủ trương nâng cấp thành đô thị loại II trước năm 2010 và khi đầu tư của Trung ương vào đây gia tăng thì FDI vào Cần Thơ cũng khá hơn. Năm 2007 vốn FDI đăng ký 28,6 triệu USD, năm 2008 là 540 triệu USD. Năm 2009 là năm FDI vào ĐBSCL giảm rất mạnh, chỉ bằng 0,5% so tổng FDI chung cả nước nhưng Cần Thơ vẫn đạt 24 triệu USD chiếm 22%. Xu hướng FDI vào Cần Thơ sẽ gia tăng mạnh trong thời gian tới khi hệ thống hạ tầng kết nối được hình thành như cầu Cần Thơ, sân bay Cần Thơ và đường ra biển.

Điểm yếu của Cần Thơ trong nhiều năm qua là có quá nhiều dự án khu dân cư, thiếu các dự án công nghiệp và dịch vụ có hàm lượng công nghệ. Rất nhiều dự án khu dân cư chất lượng tầm tầm không mang lại điểm nhấn nào cho thành phố. Các khu này cũng chưa có kết nối nào với các ngành công nghiệp và dịch vụ, đã xuất hiện câu hỏi người ta đến đây mua nhà ở rồi để làm gì?! Các khu dân cư như vậy đã đẩy giá đất lên rất cao, biến các khu công nghiệp được qui hoạch nằm bên cạnh ở vào thế lưỡng nan. Nếu ép dân chúng nhận đền bù giá thấp sẽ tạo nên những so sánh, bất bình âm ỉ. Nếu không cưỡng chế thì không nhà đầu tư nào dám vào với giá đất quá cao.

Các khu, cụm công nghiệp dàn hàng ngang

Tính liên kết là điểm trọng yếu trong phát triển. Nếu có được chiến lược tổng thể, hay ít nhất có một sự phối hợp nhau trong toàn vùng để phát triển thì các khu công nghiệp sẽ không dàn hàng ngang tiến lên và giành giật nhau từng nhà đầu tư.

Tất cả các khu công nghiệp trong vùng đều là những khu “đa năng”, cùng kêu gọi các đầu tư mà loại hình đầu tư đều giống nhau. Là may mặc, chế biến nông sản, thủy sản, thức ăn gia súc, chế tạo máy móc nông nghiệp, là hóa chất, nông dược, đồ chơi hay điện tử cho đến nhà máy giấy, nhà máy thép, xi măng, khu vui vhơi giải trí, khách sạn nhà hàng… Nếu trung bình mỗi tỉnh có 3 khu công nghiệp và 10 cụm công nghiệp thì cả vùng có 40 khu công nghiệp và 150 cụm công nghiệp đều có cách làm giống như vậy. Ngay cả trong cùng một tỉnh với dân số chỉ trên dưới 1,5 triệu thì các khu công nghiệp, cụm công nghiệp cũng đều có cùng cách làm kêu gọi các dự án giống nhau, cũng là “tổng hợp”, “xen canh”.

Điều này là dễ dàng trong kêu gọi và ghi điểm thành tích của mỗi tỉnh, mỗi huyện. Nhưng trên bình diện tổng thể đó là sự lãng phí phân bố các nguồn lực từ vốn đầu tư cho đến lao động. Tạo ra những nhóm lao động giản đơn, giống như nhau ở tất cả các tỉnh và thiếu hụt lao động cũng giống như nhau.

Cần có thêm lực đẩy mới – Phần 1

Vị trí, lợi thế riêng và các yếu tố có thể tạo ra được

Số liệu đầu tư vừa nói cũng cho thấy 2 điều: Một là vị trí thuận lợi (giao thông và tiếp cận với đô thị lớn) như trường hợp của Long An, hai là có lợi thế riêng như trường hợp Phú Quốc – Kiên Giang. Không có được 2 điều nói trên thì việc kêu gọi đầu tư dù có tốn kém đến mấy cũng nhận lại kết quả khiêm tốn.

Điều lưu ý cả 2 yếu tố trên là có thể tạo ra được thông qua chính sách và quá trình phát triển. Phú Quốc bao nhiêu năm nay vẫn là Phú Quốc, nhưng từ khi công bố đây là vùng đặc biệt, có cơ chế đặc thù để phát triển kinh tế, Chính phủ đầu tư và kêu gọi đầu tư vào các dự án hạ tầng sân bay, bến cảng, đường giao thông, nhà máy điện thì đầu tư vào Kiên Giang và Phú Quốc mới trở nên sôi động. FDI đăng ký vào Kiên Giang năm 2008 lên đến 2,3 tỉ USD chiếm 60% vốn đăng ký trong năm của cả vùng.

Long An nằm gần TP. HCM hưởng lợi từ cơ sở hạ tầng giao thông dễ dàng kết nối và hệ thống dịch vụ phát triển của một đô thị lớn. Sau Long An, Tiền Giang đang trở thành địa điểm có sức thu hút đầu tư gia tăng. FDI năm 2007 lên tới 127 triệu USD, chiếm 14% tổng FDI vào trong vùng. Mặc dù kết quả thu được đến nay là khiêm tốn so với những gì đã bỏ ra. Nhưng Tiền Giang sẽ sớm trở thành địa chỉ thu hút đầu tư khi tỉnh này biết cách khai thác tuyến giao thông qua đây với việc xây dựng các trục kết nối vào địa phương nhằm thúc đẩy phát triển đô thị và công nghiệp hóa.

Nhưng cả Long An và Tiền Giang cũng có rủi ro lớn, là dễ trở thành sân sau trong quá trình tái cấu trúc cơ cấu kinh tế của TP. HCM và các tỉnh miền Đông. Các nhà đầu tư nhỏ, cơ sở sản xuất gây ô nhiễm có thể tìm thấy nơi đây như địa chỉ mới với giá thuê đất thấp, yếu kém về quản lý để tiếp tục quá trình sản xuất mà không cần đổi mới công nghệ.

Trường hợp của Trà Vinh bổ sung thêm điều vừa phân tích về một thị trường ngách và mối quan tâm của nhà đầu tư vào một triển vọng phát triển trong tương lai nhìn thấy được.

Trà Vinh là một tỉnh “vùng sâu vùng xa”, từ 2006 đến 2008 thu hút được hơn 40 triệu USD, năm 2009 được 15 triệu USD chiếm 13,5% FDI, gần bằng với Tiền Giang tỉnh có vị trí giao thông thuận lợi hơn. Lý giải nguyên nhân có thể nằm một phần ở chính sách ưu đãi với tỉnh có người dân tộc. Nhưng một nguyên nhân lớn hơn nằm ở phía sau là sự thuận lợi trong tương lai về giao thông đường thủy (kênh Quan Chính Bố, cầu Cổ Chiên) và các dự án lớn mà Chính phủ quy hoạch đầu tư (kinh tế biển, nhà máy nhiệt điện). Các nhà đầu tư không đến chỉ vì hiện tại, mà họ quan tâm đến triển vọng trong tương lai. Nhưng không phải là một triển vọng với đầy lời hứa, mà họ với nhiều nguồn thông tin khác nhau tin rằng triển vọng tốt sẽ xảy ra. Tại Trà Vinh vẫn có nhà đầu tư vào dự án mà không phải là sử dụng lao động phổ thông. Công ty Mỹ Lan, chuyên sản xuất và ứng dụng các hóa chất tinh khiết dùng trong lĩnh vực quang điện tử là trường hợp như vậy. Nhà máy này là một trường hợp về công nghệ mà ngay ở Cần Thơ vẫn chưa có được dự án tương tự để so sánh.

Dự án với tâm huyết để góp phần xây dựng quê hương

“Để xúc tiến dự án này chúng tôi đã kêu gọi một số anh em, đối tác ở nước ngoài với mục tiêu là đóng góp xây dựng quê hương. Theo tính toán trước đây, giá trị đầu tư toàn bộ dự án này vào khoảng trên 500 triệu USD (khoảng 900 tỉ đồng). Ngoài ra, chúng tôi cũng kêu gọi sự hợp tác, đầu tư thêm cho nhiều hạng mục khác nhau như cơ sở hạ tầng, giao thông, cấp thoát nước… Đến hiện tại tính toán cho thấy mức đầu tư sẽ lên tới cả ngàn tỉ đồng.

Vào tháng 7 này công ty sẽ khởi công khu nhà chung cư dành cho người có thu nhập thấp trước. Hiện tại ở Cần Thơ vẫn chưa có một khu nhà ở nào như vậy và có thể nói đây là khu nhà ở xã hội đầu tiên ở khu vực này. Tổng thể khu đô thị này bao gồm cả trung tâm thương mại, khu hành chính phường, trường tiểu học, mầm non, trung học, bệnh viện, siêu thị, công viên cây xanh… nên sẽ có đầy đủ các dijhc vụ xã hội về y tế, giáo dục… Căn hộ dành cho người có thu nhập thấp được chúng tôi thiết kế thành 3 loại 45m2 , 59m2 và 70m2, rất đa dạng để người dân lựa chọn.

Chúng tôi đang dự kiến giá bán cho mỗi căn hộ chừng 300tr – 500tr tùy theo diện tích. Hầu hết căn hộ ở đây khi khách hàng mua đều có sự hỗ trợ của ngân hàng. Đối tượng chính sẽ là công nhân viên chức, bộ đội, viên chức hành chính sự nghiệp, người dân nghèo đô thị… Người mua sẽ đóng 20% số tiền, ngân hàng sẽ hỗ trợ cho vay tùy theo thu nhập và trả dần từ 10 – 20 năm. Ngay sau khi nhà hoàn thành, giao tiền và giao nhà sẽ được tiến hành cấp sổ đỏ ngay”.

Khu đô thị Mỹ Hưng – Cần Thơ: Nơi nâng cao giá trị sống

Dự án khu đô thị Mỹ Hưng thuộc khu Nam Cần Thơ do công ty cổ phần Thương mại xây dựng địa ốc Hồng Loan làm chủ đầu tư đã và đang trở thành đô thị kiểu mẫu, thu hút sự quan tâm đặc biệt của người dân cũng như giới đầu tư bất động sản.

 Được thành lập từ 2005, công ty cổ phần Thương mại xây dựng địa ốc Hồng Loan (công ty Hồng Loan) đến nay đã là một trong những doanh nghiệp lớn trong ngành xây dựng, bất động sản tại Cần Thơ. Công ty ngay từ khi hình thành đã tập trung phát triển các lĩnh vực thế mạnh là thiết kế, xây dựng các công trình dân dụng và công nghiệp, kinh doanh bất động sản.

Nắm bắt được tiềm năng phát triển của thành phố trực thuộc Trung ương như Cần Thơ, đặc biệt là nhu cầu sử dụng căn hộ, nhà phố cao cấp sẽ là xu hướng phát triển, công ty Hồng Loan đã bắt tay vào kế hoạch đầu tư dự án Mỹ Hưng. Ông Lê Thanh Tùng, tổng giám đốc công ty Hồng Loan cho biết: “Khu đô thị Mỹ Hưng là dự án được chúng tôi đầu tư nghiên cứu rất kỹ bởi một đội tư vấn, kỹ sư, kiến trúc sư giỏi, với mục tiêu tạo ra một không gian sống hài hòa tự nhiên, có đầy đủ các dịch vụ tiện ích”.

Trong một thời gian ngắn, công ty đã hoàn tất thủ tục quy hoạch 1/500, trên tổng diện tích 75ha, thời gian phát triển dự án lên đến 10 năm và được chia thành nhiều giai đoạn khác nhau. Đô thị Mỹ Hưng cách trung tâm thành phố Cần Thơ 2km, phía Đông song hành giáp quốc lộ 1A, phía Tây giáp đường dẫn lên cầu Cần Thơ, phía Nam giáp rạch Cái Nai và phía Bắc giáp đường Trần Hoàng Na. Ngay kế bên là các trường đại học Quốc tế, đại học Tây Đô và trung tâm Văn hóa Tây Đô, đối diện bến xe liên tỉnh-TP.HCM. Khu đô thị Mỹ Hưng đi lại thuận tiện, kết nối giao thông với các trục trung tâm khác như Vĩnh Long, An Giang, Sóc Trăng… Gần nơi có đủ dịch vụ về thương mại, hành chính, tài chính, giao dịch bất động sản … đang được xây dựng nhằm đáp ứng nhu cầu sử dụng dịch vụ của dân cư trong khu vực.

Quy mô dân số theo thiết kế của khu đô thị Mỹ Hưng vào khoảng 15.000 cư dân, bao gồm các hạng mục công trình chính:iệHieenjHiệnH 1 trung tâm thương mại hiện đại bậc nhất tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long; 1 bệnh viện quốc tế có quy mô hơn 300 giường, đạt tiêu chuẩn quốc tế; 1 trường mầm non, 1 trường tiểu học, 1 trường trung học dự kiến xây dựng thành trường phổ thông quốc tế đầu tiên tại Cần Thơ; khu trung tâm hành chính dành cho UBND phường; 1 khách sạn tiêu chuẩn 5 sao, có khu công viên cây xanh, nằm kế rạch Cái Nai, rộng gần 8ha gồm đủ các dịch vụ ăn uống, vui chơi, giải trí và thể dục thể thao. Trong khu đô thị có hồ bán nguyệt, được trồng cây hai bên bờ, tạo cảnh quan, điều hòa không khí mát cho toàn khu đô thị.

Các công trình nhà ở, nhà phố liên kế dành cho những hộ gia đình ở, kết hợp với buôn bán; khu nhà ở biệt thự đơn lập và song lập; các công trình cao tầng đa chức năng xây dựng chung cư trung và cao cấp kết hợp với thương mại và dịch vụ, khu dành riêng cho giới công chức. Ngoài ra, còn có khu xử lý và trung chuyển rác thải cũng được xây dựng để đáp ứng đầy đủ các nhu cầu, dịch vụ của người dân trong khu đô thị.

Theo ông Lê Thanh Tùng tâm sự, mong muốn của công ty là biến khu đô thị Mỹ Hưng thành đô thị hạt nhân, trung tâm của Cần Thơ, với đầy đủ không gian sống, dịch vụ đa dạng cho người dân, góp phần tạo sự thay đổi bộ mặt đô thị của thành phố. Công ty Hồng Loan cũng đang mời gọi các nhà đầu tư để góp thêm các nguồn lực để cùng nhau tạo ra một không gian sống có giá trị trong một khu đô thị văn minh hiện đại ở đây.